Gỉ đồng được hình thành do sự ăn mòn kim loại đồng, có màu xanh lục chứa đồng (II) carbonate (CuCO3) và đồng (II) hydroxide (Cu(OH)2. với hàm lượng khác nhau. Cả hai hợp chất đồng đều phản ứng với hydrochloric acid loãng.
CuCO3 + HCl -> CuCl2 + Co2 + H2O
Cu(OH)2 + HCl -> Cucl2 + H2O
Một bạn học sinh lập kế hoạch thực hiện thí nghiệm để xác định hàm lượng phần trăm của đồng (II) carbonate trong mẫu gỉ đồng. Giả thuyết được học sinh đưa ra: “Tìm thể tích hydrochloric acid loãng cần thiết để phản ứng vừa đủ với khối lượng gỉ đồng sẽ là phương pháp phù hợp để xác định hàm lượng đồng (II) carbonate trong mẫu gỉ đồng.”
Các hóa chất và dụng cụ cần chuẩn bị:
– Mẫu gỉ đồng.
– Dung dịch hydrochloric acid (HCl) 1 M.
– Thuốc thử và thiết bị phòng thí nghiệm thông thường.
Giả sử các chất khác có trong gỉ đồng đều không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và trơ.
a) Có thể thay dung dịch HCl bằng dung dịch H2SO4 loãng.
b) Nếu nồng độ HCl giảm thì thể tích HCl cần dùng để phản ứng hoàn toàn sẽ tăng.
c) Giả thuyết là sai vì cả CuCO3 và Cu(OH)2 đều phản ứng với HCl.
d) Hàm lượng đồng(II) carbonate có thể được xác định bằng việc đo thể tích khí sinh ra trong quá trình phản
ứng.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Sai, thí nghiệm được học sinh thực hiện theo giả thuyết của cá nhân với mục đích là “Tìm thể tích hydrochloric acid loãng” nên không thể thay HCl loãng bằng H2SO4 loãng.
(b) Đúng, số mol không đổi nên nồng độ HCl giảm thì thể tích HCl cần dùng để phản ứng hoàn toàn sẽ tăng.
(c) Đúng, đo thể tích hydrochloric acid loãng không giải quyết được vấn đề “xác định hàm lượng CuCO3”. Phải đo thể tích CO2 thoát ra mới đúng.
(d) Đúng
