Neo Pentan

Trong quy trình của phương pháp Solvay, NaHCO3 dễ tách ra khỏi dung dịch phản ứng ở dạng tinh thể, rồi được đem nhiệt phân theo phương trình hoá học:
2NaHCO3(s) → Na2CO3(s) + H2O(g) + CO2(g) (1)
Biết enthalpy tạo thành chuẩn (kJ/mol) của NaHCO3(s), Na2CO3(s), H2O(g) và CO2(g) có giá trị lần lượt là –951, –1131, –242 và –394; ion CO32– của Na2CO3 và ion HCO3– của NaHCO3 đều bị thuỷ phân:
CO32–(aq) + H2O(l) ⇋ OH–(aq) + HCO3–(aq)
HCO3–(aq) + H2O(l) ⇋ OH–(aq) + H2CO3(aq)
Khác với NaHCO3, Na2CO3 không được sử dụng điều trị triệu chứng đau dạ dày.
a) NaHCO3 dễ tách ra khỏi dung dịch phản ứng vì nước bay hơi làm dung dịch cô đặc, tạo điều kiện cho NaHCO3 kết tinh.
b) Chấp nhận biến thiên enthalpy của phản ứng không thay đổi theo nhiệt độ và bằng với giá trị tính theo enthalpy tạo thành chuẩn của các chất, thì giá trị biến thiên enthalpy của phản ứng (1) là +135 kJ.
c) Na2CO3 không được dùng điều trị triệu chứng đau dạ dày do chất này tạo môi trường kiềm mạnh hơn NaHCO3.
d) Ngoài phương pháp Solvay, việc sản xuất Na2CO3 còn được thực hiện bằng phản ứng giữa CaCO3 và NaCl.

Neo Pentan chọn trả lời