Tiến hành thí nghiệm theo các bước sau:
• Bước 1: Cho khoảng 1 gam tinh bột vào ống nghiệm chứa 5 mL nước ấm (khoảng 50°C), khuấy nhẹ (ống 1).
• Bước 2: Thêm 1 mL dung dịch HCl 1M vào ống 1, khuấy đều, đun cách thủy trong 10 phút, để nguội.
• Bước 3: Thêm từ từ NaHCO3 vào ống 1 đến khi ngừng sủi bọt khí.
• Bước 4: Cho 0,5 mL dung dịch CuSO4 5% vào 1 ống nghiệm (ống 2) có chứa 2 mL dung dịch NaOH 10%, lắc nhẹ, cho tiếp 2 mL dung dịch ở ống 1 (thu được sau bước 3) vào ống 2. Đun cách thủy ở nhiệt độ 80°C trong 5 phút.
a) Sau bước 1, thu được dung dịch đồng nhất.
b) Ở bước 3, NaHCO3 có vai trò chính làm tăng tốc độ phản ứng thủy phân ở bước 2.
c) Trong bước 2, xảy ra phản ứng thủy phân tinh bột tạo thành glucose.
d) Sau bước 4, thu được dung dịch màu xanh lam.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Sai, tinh bột không tan trong nước lạnh. Ở nhiệt độ khoảng 50°C (nước ấm), các hạt tinh bột bắt đầu ngậm nước và trương phồng lên tạo thành hồ tinh bột, không phải là một dung dịch đồng nhất hoàn toàn.
(b) Sai, vai trò của NaHCO3 ở bước 3 là trung hòa lượng HCl dư còn lại sau phản ứng. Việc này là bắt buộc vì ở bước 4, chúng ta cần môi trường kiềm (NaOH) để tạo Cu(OH)2 và thực hiện phản ứng oxy hóa glucose:
NaHCO3 + HCl —> NaCl + CO2 + H2O
(c) Đúng, dưới tác dụng của xúc tác acid (HCl) và nhiệt độ (đun cách thủy), các liên kết glycoside trong mạch tinh bột (amylose và amylopectin) bị bẻ gãy, sản phẩm cuối cùng thu được là glucose.
(d) Sai, ở bước 4, CuSO4 phản ứng với NaOH tạo ra kết tủa Cu(OH)2 màu xanh nhạt. Khi cho dung dịch chứa glucose (từ bước 3) vào và đun nóng đến 80°C, phản ứng oxy hóa – khử xảy ra. Glucose khử Cu(OH)2 thành kết tủa đỏ gạch Cu2O.
