Cellulose là thành phần chính của thành tế bào thực vật, làm nên bộ khung của cây cối. Cellulose có nhiều trong bông, đay, tre, nứa, gỗ,… Từ cellulose người ta điều chế được cellulose acetate (có thành phần chủ yếu là cellulose triacetate và cellulose diacetate) theo các phương trình sau:
[C6H7O2(OH)3]n + 2n(CH3CO)2O → [C6H7O2(OCOCH3)2(OH)]n + 2nCH3COOH
[C6H7O2(OH)3]n + 3n(CH3CO)2O → [C6H7O2(OCOCH3)3]n + 3nCH3COOH
a) Trong mỗi phân tử cellulose có 3 nhóm hydroxy nên cellulose có khả năng phản ứng với Cu(OH)2 trong môi trường kiềm ở nhiệt độ thường tạo dung dịch màu xanh lam.
b) Phân tử khối của cellulose là 162.
c) Bản chất của các phản ứng (1), (2) là nguyên tử H trong nhóm -OH của cellulose được thay bằng nhóm -COCH3.
d) Khi phân tích thành phần nguyên tố của một mẫu cellulose acetate người ta thu được phần trăm khối lượng carbon là 49,875%. Vậy thành phần phần trăm khối lượng oxygen trong cellulose acetate trên là 34,64%. Giả sử trong cellulose acetate chỉ có cellulose triacetate và cellulose diacetate. (kết quả làm tròn đến hàng phần trăm)
Câu trả lời tốt nhất
(a) Sai, mỗi mắt xích cellulose có 2 nhóm -OH, mỗi phân tử có rất nhiều nhóm -OH nhưng cellulose không có khả năng hòa tan Cu(OH)2/OH- do phân tử quá lớn, các chuỗi nằm song song và gắn chặt với nhau bằng liên kết hydrogen.
(b) Sai, mỗi mắt xích cellulose có phân tử khối 162. Phân tử cellulose có rất nhiều mắt xích, số mắt xích mỗi phân tử không giống nhau nên phân tử khối rất lớn và không phải là một số cụ thể.
(c) Đúng, bản chất các phản ứng (1)(2) là phản ứng ester hóa, ở đó nguyên tử H trong nhóm -OH của cellulose được thay bằng nhóm -COCH3.
(d) Sai, dạng tổng quát của mỗi mắt xích là C6H7O2(OCOCH3)x(OH)3-x
%C = 12(2x + 6)/(162 + 42x) = 49,875%
—> x = 2,882
—> %O = 16(x + 5)/(162 + 42x) = 44,56%
