Glycine là chất rắn kết tinh, không màu, được tìm thấy với nồng độ cao trong da, mô cơ, mô liên kết của các khớp. Glycine còn được sử dụng làm chất phụ gia cho thực phẩm, thuốc, mỹ phẩm. Hiện nay, glycine được sản xuất chủ yếu bằng cách cho chloroacetic acid tác dụng với ammonia theo phương trình hóa học:
ClCH2COOH + 2NH3 → H2NCH2COOH + NH4Cl.
Chloroacetic acid Glycine
a) NH4Cl được thu hồi sau quá trình sản xuất có thể dùng làm phân đạm, giup tối ưu chi phí và giảm thiểu đáng kể tình trạng ô nhiễm nitrogen gây hiện tượng phú dưỡng.
b) Một kỹ sư hóa chất cho 18,9 kg chloroacetic acid tác dụng với dung dịch ammonia 25% (D = 0,91 g/mL, dùng dư). Thêm methanol vào sản phẩm để glycine kết tinh khỏi dung dịch (phụ phẩm vẫn tan phần lớn trong hỗn hợp). Lọc và sấy khô, thu được 12,8 kg sản phẩm glycine thô. Phân tích mẫu glycine thô này bằng phương pháp chuẩn độ, kết quả cho thấy hàm lượng glycine nguyên chất trong mẫu đạt 94,12%. Hiệu suất của quá trình sản xuất glycine là 90,2%. (Chỉ làm tròn ở phép tính cuối cùng, kết quả làm tròn đến hàng phần mười).
c) Dung dịch của glycine làm quỳ tím hóa đỏ.
d) Glycine là α–amino acid đơn giản nhất có công thức phân tử C2H5NO2.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Đúng, việc thu hồi phụ phẩm này để làm phân bón không chỉ giúp tối ưu hóa giá trị kinh tế của quy trình sản xuất Glycine mà còn giúp kiểm soát lượng dư lượng hóa chất thải ra môi trường, ngăn chặn hiện tượng phú dưỡng (tình trạng quá tải dinh dưỡng gây bùng nổ tảo trong các nguồn nước mặt).
(b) Sai, mGly = 12,8.94,12% = 12,04736 kg
—> m chloroacetic acid phản ứng = 12,04736.94,5/75 = 15,17967 kg
—> H = 15,17967/18,9 = 80,3%
(c) Sai, dung dịch Gly có môi trường acid yếu, không làm đổi màu quỳ tím.
(d) Đúng
