Trong các nồi hơi công nghiệp thường có đóng cặn CaSO4. Lớp cặn này thường được tẩy bỏ bằng soda theo phương trình hóa học:
CaSO4(s) + Na2CO3(aq) ⇌ CaCO3(s) + Na2SO4(aq) (I)
Một nhóm học sinh đã muốn kiểm chứng lại phản ứng này trong phòng thí nghiệm, từ đó nhóm đã lập kế hoạch và tiến hành thí nghiệm như sau:
• Bước 1: Thêm 1,00 g CaSO4 vào 100,0 mL dung dịch Na2CO3 0,10 M ở 25 °C.
• Bước 2: Khuấy đều hỗn hợp đồng thời đo pH của dung dịch bằng máy đo pH. Kết quả sự thay đổi pH được thể hiện như hình bên.

Dựa trên thực tế là pH không thay đổi sau thời gian t1. Học sinh A đưa ra giả thuyết: phản ứng (I) đã đạt đến cân bằng. Còn học sinh B đưa ra hai giả thuyết:
– Giả thuyết 1: Chất rắn CaSO4 đã được chuyển đổi hoàn toàn.
– Giả thuyết 2: Chất rắn CaSO4 vẫn còn, nhưng được bao quanh bởi kết tủa CaCO3.
Để kiểm chứng giả thuyết của học sinh B, nhóm tiếp tục làm thí nghiệm và thu được kết quả như sau:
• Bước 3: Tách lấy kết tủa, rửa sạch, làm khô
• Bước 4: Thêm lượng dư dung dịch HCl 0,1M → Có bọt khí, kết tủa tan hoàn toàn
• Bước 5: Thêm dung dịch BaCl2 0,1M → Không xuất hiện kết tủa trắng
a) Cặn CaSO4 được tẩy bỏ nhờ vào độ tan của CaSO4 cao hơn so với CaCO3.
b) pH trong thí nghiệm giảm dần do nồng độ của Na2CO3 trong dung dịch giảm dần.
c) Kết quả của thí nghiệm ở bước 2 cho thấy hiệu suất của quá trình tẩy cặn CaSO4 phụ thuộc vào pH của dung dịch.
d) Từ kết quả thí nghiệm ở bước 4 và 5 kết luận được giả thuyết 1 là đúng, giả thuyết 2 là sai.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Đúng, CaSO4 có độ tan lớn hơn CaCO3 nên dễ dàng chuyển hóa thành CaCO3.
(b) Đúng, dung dịch Na2CO3 có môi trường base do ion CO32- bị thủy phân. Khi lượng Na2CO3 giảm dần thì pH giảm dần tới 7 (sản phẩm Na2SO4 trung tính).
(c) Sai, hiệu suất không phụ thuộc pH (nồng độ Na2CO3) mà tốc độ phản ứng mới phụ thuộc pH. pH càng lớn (nồng độ Na2CO3 càng cao) thì cặn bị tẩy (chuyển hóa thành CaCO3) càng nhanh.
(d) Đúng, kết tủa tan hoàn toàn trong dung dịch HCl, dung dịch sau phản ứng không kết tủa với Ba2+ nên không có SO42- chứng tỏ CaSO4 đã chuyển hóa hết.
