Neo Pentan

Aspirin (hay acetylsalicylic acid) là một dẫn xuất của salicylic acid được sử dụng để hạ sốt và giảm đau nhẹ đến trung bình do tình trạng đau nhức cơ, răng, cảm lạnh đau đầu và sưng tấy do viêm khớp. Một nhóm học sinh thực hiện tổng hợp Aspirin trong phòng thí nghiệm theo các bước:
• Bước 1: Cho 55,0 gam salicylic acid khan và 80,0 mL acetic anhydride (d = 1,08 g/mL) vào bình cầu 250 mL; thêm 4,0 ml sulfuric acid đặc vào và lắc kĩ. Sau đó, khuấy khối phản ứng ở 50 – 60°C trong khoảng 45 phút cho đến khi tan hết phần chất rắn.
• Bước 2: Dùng nước đá để làm lạnh hỗn hợp phản ứng đến nhiệt độ nhỏ hơn 10°C. Cho hỗn hợp vào cốc lớn, thêm từ từ 750 ml nước cất và khuấy kỹ, aspirin sẽ kết tủa. Lọc lấy sản phẩm bằng phễu lọc Buchner.
• Bước 3: Hòa tan aspirin thô trong 100 ml ethanol 90°, đun nóng để tan hoàn toàn, sau đó đổ dung dịch này từ từ vào 450 ml nước nóng khoảng 50°C, đun nóng nhẹ cho chất rắn tan hết. Để nguội dung dịch thu được đến nhiệt độ phòng. Aspirin kết tinh dưới dạng tinh thể, lọc và hút hết nước, sấy khô ở 50°C.
• Bước 4: Cân sản phẩm thu được 52,4 gam aspirin.
Biết phương trình hóa học điều chế aspirin từ salicylic acid được biểu diễn như sau
HOC6H4COOH + (CH3CO)2O → CH3COOC6H4COOH + CH3COOH
salicylic acid acetic anhydride aspirin
a) Hiệu suất của quá trình tổng hợp aspirin ở thí nghiệm trên đạt 73%. (kết quả làm tròn đến hàng đơn vị)
b) Aspirin có khả năng tham gia phản ứng với dung dịch NaOH dư theo tỉ lệ mol 1 : 2.
c) Phương pháp tách và tinh chế aspirin ở trên là phương pháp kết tinh.
d) Aspirin tan trong nước nhiều hơn salicylic acid.

Neo Pentan chọn trả lời