Để loại bỏ ion ammonium (NH4+) trong nước thải, trước tiên người ta phải kiềm hóa dung dịch nước thải bằng NaOH đến pH = 11, sau đó cho chảy từ trên xuống trong một tháp được nạp đầy các vòng đệm bằng sứ, còn không khí được thổi ngược từ dưới lên để oxi hóa NH3. Phương pháp này loại bỏ được khoảng 92% lượng ammonium trong nước thải.
Kết quả phân tích của ba mẫu nước thải khi chưa được xử lý như sau
Mẫu Hàm lượng ammonium trong nước thải (mg/lít)
1………………….. 10
2………………….. 18
3………………….. 125
Giả sử tiến hành xử lí ba mẫu nước thải theo phương pháp trên, biết rằng tiêu chuẩn hàm lượng ammonium cho phép là 1,0 mg/lít. Cho các nhận định sau:
a) Tổng lượng ammonium còn lại của mẫu nước thải (1) và (3) là 10,8 mg/lít.
b) Mẫu nước thải (2) đạt tiêu chuẩn cho phép.
c) Phương pháp ngược dòng nhằm mục đích tăng diện tích tiếp xúc giữa ammonia với oxygen không khí.
d) Mục đích của việc kiềm hóa ammonium là để thu được ammonia.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Đúng, sau xử lý mẫu (1) còn lại 10.8% = 0,8 mg/L, mẫu (3) còn lại 125.8% = 10 mg/L, tổng còn lại 10,8 mg/L.
(b) Sai, sau xử lý mẫu (2) còn lại 18.8% = 1,44 mg/L, vượt quá tiêu chuẩn cho phép là 1,0 mg/L nên chưa đạt.
(c) Đúng, khí đi từ dưới lên và chất lỏng phun từ trên xuống giúp tăng diện tích tiếp xúc giữa ammonia với oxygen không khí, đảm bảo NH3 liên tục bị “kéo” từ nước vào không khí cho đến khi ra khỏi tháp.
(d) Đúng, kiềm hóa giúp tăng nồng độ OH- khiến cân bằng NH4+ + OH- ⇋ NH3 + H2O chuyển dịch theo chiều thuận.
