Neo Pentan

Nhựa PET (poly(ethylene terephthalate)) là một polymer được điều chế từ terephthalic acid và ethylene glicol – loại polymer được sử dụng để làm chai lọ, bao bì nhưng lại rất khó phân hủy trong tự nhiên. Gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra chủng vi khuẩn Ideonella sakaiensis có khả năng tiết ra enzyme có khả năng phân hủy loại nhựa này. Để nghiên cứu tốc độ phân hủy nhựa PET, người ta cho một mảnh nhựa PET dạng tấm hình vuông (cạnh 4,0 cm, độ dày 0,03 cm và khối lượng riêng 1,45 g/cm³) vào một bể chứa lượng lớn vi khuẩn Ideonella sakaiensis. Do mật độ vi khuẩn lớn, chúng bám kín toàn bộ bề mặt của mảnh nhựa nên tốc độ phân hủy nhựa PET của vi khuẩn đạt mức cực đại và gần như không đổi. Thực nghiệm xác định được khối lượng nhựa bị phân hủy trung bình là 8,12 mg/ngày. Sau 12 ngày liên tục, mảnh nhựa trên đã bị vi khuẩn phân hủy a% về khối lượng. Thực hiện thí nghiệm tương tự với những mảnh nhựa PET với độ kết tinh khác nhau, thu được kết quả như đồ thị bên cạnh.

Câu 17: Giá trị của a bằng (kết quả các phép tính trung gian không được làm tròn, kết quả làm tròn đến hàng phần mười)

A. 56,0.       B. 14,0.       C. 3,5.       D. 1,2.

Câu 18: Cho các phát biểu sau về nhựa PET
(1) Phản ứng tổng hợp PET từ terephthalic acid và ethylene glicol thuộc loại phản ứng trùng ngưng.
(2) PET rất khó phân hủy trong tự nhiên vì bền trong môi trường acid.
(3) Tơ được chế tạo từ PET thuộc loại tơ bán tổng hợp.
(4) Số 1 trong kí hiệu nhận dạng cho biết đồ dùng làm từ PET chỉ sử dụng một lần.
(5) Độ kết tinh của nhựa và tốc độ phân huỷ tỷ lệ thuận với nhau.
Số nhận định đúng là

A. 3.       B. 2.       C. 1.       D. 4.

Neo Pentan chọn trả lời