Sản xuất đường kính từ cây mía qua một số giai đoạn chính thể hiện ở sơ đồ dưới đây:

Cho các nhận định sau:
(a) Phương pháp được sử dụng để tinh chế đường từ cây mía là chiết lỏng-rắn và kết tinh.
(b) Có calcium gluconate trong dung dịch đường thu được sau bước (2).
(c) Quá trình cô đặc ở giai đoạn (5) được thực hiện bằng cách cô cạn dung môi ở áp suất thường để thu được đường kết tinh.
(d) Từ 260 L nước mía có nồng độ đường 7,5% (có khối lượng riêng 1,103 gam/mL) chế biến được 15,36 kg đường kết tinh (chứa 2% tạp chất). Biết chỉ 70% lượng đường thu được ở dạng kết tinh.
Số nhận định đúng là
A. 3. B. 4. C. 1. D. 2.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Sai, chỉ có phương pháp kết tinh và các biện pháp cơ học (ép, lọc…), phương pháp chiết lỏng – rắn không được áp dụng trong trường hợp này.
(b) Sai, không có calcium gluconate, chỉ một phần nhỏ saccharose chuyển hóa thành calcium saccharate, phần lớn vẫn nằm ở dạng saccharose.
(c) Sai, quá trình cô đặc ở giai đoạn 5 thường làm ở áp suất thấp, giúp giảm nhiệt độ cô đặc, nước bay hơi nhiều hơn và ngăn chặn quá trình caramel hóa.
Lưu ý: Làm đường thủ công không có thiết bị hút chân không sẽ cô đặc ở áp suất thường bằng những chảo miệng rộng giúp bay hơi nước nhanh, một phần đường đã bị caramel hóa khiến thành phẩm có màu nâu sậm. Quá trình này không tạo ra đường trong suốt, tinh thể sạch, đẹp nhưng đổi lại, chúng lại giữ được hương vị riêng.
(d) Đúng
m đường = 260.1,103.7,5%.70%/98% = 15,36 kg
