Khi con người sử dụng thức ăn chứa tinh bột, enzyme α-amylase có trong nước bọt thúc đẩy quá trình thuỷ phân tinh bột thành các phân tử nhỏ hơn gồm dextrin và maltose. Quá trình này tiếp tục ở ruột non, nơi phần lớn tinh bột bị thuỷ phân thành glucose. Glucose được hấp thụ vào máu và di chuyển đến các tế bào trong khắp cơ thể. Glucose có thể được sử dụng cho nhu cầu năng lượng hoặc có thể được chuyển đổi thành glycogen lưu trữ trong gan và cơ.
(a) Khi ăn cơm, nếu nhai kĩ sẽ thấy vị ngọt vì tinh bột bị thuỷ phân thành glucose.
(b) Tinh bột bị thủy phân bởi enzyme α-amylase hoặc môi trường acid.
(c) Glucose chủ yếu đóng vai trò cung cấp năng lượng cho tế bào.
(d) Glycogen lưu trữ trong gan và cơ, khi cần thiết có thể chuyển hoá thành glucose để cung cấp năng lượng cho cơ thể.
Số phát biểu đúng là:
A. 1. B. 4. C. 2. D. 3.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Sai, khi nhai kĩ, enzyme α-amylase trong nước bọt thủy phân tinh bột thành maltose (đường mạch nha) và dextrin. Vị ngọt mà ta cảm nhận được chủ yếu là của maltose, không phải glucose. Quá trình thủy phân thành glucose chủ yếu diễn ra tại ruột non nhờ hệ enzyme maltase.
(b) Đúng, tinh bột có thể bị thủy phân nhờ tác nhân sinh học là enzyme (α-amylase, β-amylase) hoặc tác nhân hóa học là acid mạnh (như HCl, H2SO4 loãng) khi đun nóng.
(c) Đúng, glucose là “nhiên liệu” chính cho các tế bào, đặc biệt là tế bào não và hồng cầu. Thông qua quá trình hô hấp tế bào, glucose oxy hóa tạo ra nguồn năng lượng cho mọi hoạt động sống.
(d) Đúng, glycogen là dạng dự trữ của glucose ở động vật (tương tự như tinh bột ở thực vật). Khi nồng độ glucose trong máu giảm, gan sẽ thủy phân glycogen thành glucose để duy trì đường huyết, còn cơ bắp sử dụng glycogen để cung cấp năng lượng tại chỗ cho các hoạt động co cơ.
