Một mẫu NaOH bị ẩm (chứa NaOH và H2O). Để xác định hàm lượng NaOH trong mẫu trên, một nhóm học sinh tiến hành như sau:
• Bước 1: Hòa tan 2,6 gam mẫu NaOH trên bằng nước cất trong cốc thủy tinh (loại 100 mL), rồi rót vào bình định mức 500 mL. Tráng cẩn thận cốc (vừa pha mẫu) nhiều lần bằng nước cất và chuyển hết nước tráng cốc vào bình định mức. Tiếp tục thêm nước cất vào bình định mức đến vạch và lắc đều, thu được dung dịch X.
• Bước 2: Dùng dung dịch X để tráng burette (loại 25 mL), sau đó rót đầy dung dịch X vào burette và điều chỉnh thể tích dung dịch trong burette về mức 0 (trong burette không còn bọt khí).
• Bước 3: Lấy 10 mL dung dịch HCl 0,06 M cho vào bình tam giác (loại 100 mL), thêm 2 giọt phenolphtalein rồi thực hiện chuẩn độ dung dịch X. Thể tích dung dịch X trung bình sau 3 lần chuẩn độ là 4,8 mL.
Cho các phát biểu sau:
(1) Trong thí nghiệm trên, tại điểm kết thúc chuẩn độ, dung dịch trong bình tam giác chuyển từ màu hồng sang không màu.
(2) Nồng độ của NaOH trong dung dịch X xác định được từ thí nghiệm là 0,125 mol/L. (Kết quả làm tròn đến hàng phần nghìn)
(3) Ở bước 1, nếu không chuyển hết nước tráng cốc (dùng pha mẫu) vào bình định mức thì thể tích dung dịch X trung bình sau 3 lần chuẩn độ ở bước 3 sẽ nhỏ hơn 4,8 mL.
(4) Phần trăm khối lượng của NaOH trong 2,6 gam mẫu ban đầu là x%. Giá trị của x là 96,2. (Kết quả làm tròn đến hàng phần mười)
Các phát biểu đúng gồm những phát biểu nào? (Liệt kê theo thứ tự từ nhỏ đến lớn, ví dụ 12; 134;…)
Một mẫu NaOH bị ẩm (chứa NaOH và H2O). Để xác định hàm lượng NaOH trong mẫu trên, một nhóm học sinh tiến hành như sau:
×
