Sau khi nhiệt phân NaHCO3 chưa hoàn toàn, bạn An thu được hỗn hợp (A) gồm Na2CO3 và NaHCO3, nên có mong muốn xác định hàm lượng mỗi chất. Quá trình tìm hiểu, An biết rằng Ba2+(aq) tạo được hợp chất với ion CO32-(aq). Hợp chất này có độ tan ở 20°C là 2,3E-3 g/100 g nước. Từ đó, An nhận định rằng “Nếu cho dung dịch của hỗn hợp gồm Na2CO3 và NaHCO3 tác dụng với dung dịch BaCl2 có dư thì số mol kết tủa thu được cũng chính là số mol Na2CO3 có trong hỗn hợp”.
Để kiểm chứng nhận định của mình, An tiến hành thí nghiệm đối với hỗn hợp (B) có thành phần đã biết gồm 1,060 g Na2CO3 và 0,840 g NaHCO3. Hòa tan (B) trong nước và pha thành 100 mL dung dịch ở 20°C, thêm 50 mL dung dịch BaCl2 0,41M, lọc thu kết tủa và rửa cẩn thận nhiều lần bằng nước cất trên phễu lọc. Lấy kết tủa đem sấy trong khoảng 50°C đến 60°C rồi cân chính xác. Tiếp tục sấy và cân lại cho đến khi khối lượng kết tủa không thay đổi, được m gam. Thí nghiệm trên được lặp lại thêm hai lần. Giá trị m ở ba lần thí nghiệm lần lượt là 2,778 gam, 2,778 gam và 2,774 gam.
a) Mục đích của việc sấy nhiều lần là làm khô kết tủa, bảo đảm khối lượng kết tủa ổn định.
b) Phân tích các số liệu cho thấy thí nghiệm đã chứng minh được nhận định của bạn An.
c) Khi cho BaCl2 dư vào dung dịch của hỗn hợp (A), sự tạo kết tủa có liên quan đến sự biến đổi của ion HCO3-.
d) Chất kết tủa có công thức là Ba(HCO3)2.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Đúng, khi sấy khối lượng kết tủa giảm dần do nước bay hơi, đến khi khối lượng ổn định là kết tủa đã khô.
(b) Sai:
nNa2CO3 = nNaHCO3 = 0,01; nBaCl2 = 0,0205
nBaCO3 trung bình = 0,0141
Như vậy nhận định của bạn An là sai vì kết quả nBaCO3 > nNa2CO3.
(c) Đúng, nBaCO3 > nNa2CO3 là do:
Ba2+ + CO32- —> BaCO3
Trong dung dịch Na2CO3, NaHCO3 có cân bằng HCO3- ⇋ CO32- + H+, khi CO32- bị tiêu thụ, cân bằng chuyển dịch theo chiều thuận nên lượng kết tủa thu được nhiều hơn.
(d) Sai, kết tủa là BaCO3.
