Neo Pentan

Để chuẩn bị cho buổi thực hành vào sáng hôm sau, một giáo viên đã pha dung dịch KMnO4 có nồng độ 0,05M dùng làm chất chuẩn. Tuy nhiên, do thời tiết nắng nóng, dung dịch có dấu hiệu bị phân hủy. Vì vậy, trước khi bắt đầu giờ thực hành, giáo viên đã tiến hành xác định lại nồng độ chính xác của dung dịch này theo các bước sau:
• Bước 1: Hòa tan 1,512 gam tinh thể H2C2O4.2H2O bằng nước cất, sau đó chuyển vào bình định mức 100 mL và thêm nước đến vạch thu được dung dịch X.
• Bước 2: Lấy chính xác 10,00 mL dung dịch X cho vào bình tam giác rồi thêm tiếp 5 mL dung dịch H2SO4 2M. Sau đó, đun nóng nhẹ dung dịch trong bình tam giác đến khoảng 70°C.
• Bước 3: Chuẩn độ dung dịch trong bình tam giác bằng dung dịch KMnO4 ở trên đến khi xuất hiện màu hồng nhạt (bền trong khoảng 20 giây) thì dừng lại. Thể tích trung bình của dung dịch KMnO4 sau 3 lần chuẩn độ là 9,70 mL.
Phương pháp chuẩn độ tuân theo phương trình hóa học (chưa cân bằng) sau:
H2C2O4 + KMnO4 + H2SO4 → K2SO4 + MnSO4 + CO2 + H2O
a) Có thể thay thế dung dịch H2SO4 bằng dung dịch HCl để làm môi trường cho phản ứng.
b) Chất chỉ thị trong phép chuẩn độ trên là dung dịch KMnO4.
c) Nồng độ thực tế của dung dịch KMnO4 tại thời điểm chuẩn độ đã giảm 1,03% so với nồng độ ban đầu khi mới pha. (Không làm tròn kết quả các phép tính trung gian, chỉ làm tròn kết quả cuối cùng đến hàng phần trăm).
d) Nồng độ mol của H2C2O4 trong dung dịch X đã pha chế ở bước 1 là 0,12M.

Neo Pentan chọn trả lời