Poly(ethylene terephthalate) (viết tắt là PET hoặc PETE) là một loại polymer nhiệt dẻo không màu, trong suốt, chịu va đập tốt và dễ dàng gia công thành nhiều dạng khác nhau. Nhờ vậy, nó được sử dụng để sản xuất các sản phẩm cần chịu lực cao như chai lọ, bình đựng hóa chất, linh kiện máy móc,… Theo tiêu chuẩn quốc tế ASTM, Nhựa PET/PETE được xếp là nhóm nhựa số 1. Công thức cấu tạo dạng khung của poly(ethylene terephthalate) được biểu diễn như bên.

a) Các monomer dùng để tổng hợp nên PET bao gồm một dicarboxylic acid và một dialcohol (diol).
b) PET được tổng hợp từ các monomer thông qua phản ứng trùng hợp.
c) Nếu một đoạn mạch phân tử PET có khối lượng 48000 amu thì hệ số polymer hóa của đoạn mạch đó là 250.
d) Do có chứa nhóm chức ester trong mạch phân tử nên rác thải nhựa làm từ PET có thể được xử lý hóa học bằng cách đun nóng với dung dịch kiềm (như NaOH) để thu hồi hóa chất cơ bản.
Câu trả lời tốt nhất
(a) Đúng, các monomer tạo nên PET gồm dicarboxylic acid (HOOCC6H4COOH) và một dialcohol (HOCH2CH2OH).
(b) Sai, PET được tổng hợp từ các monomer thông qua phản ứng trùng ngưng, do sản phẩm ngoài PET ra còn có phân tử nhỏ là H2O.
(c) Đúng, mỗi mắt xích nặng 192 amu. Đoạn mạch 48000 amu tương đương 48000/192 = 250 mắt xích.
(d) Đúng, đun nóng PET với dung dịch kiềm là giai đoạn đầu của tái chế hóa học, quá trình này sẽ chuyển hóa PET thành các hóa chất cơ bản C6H4(COONa)2, C2H4(OH)2.
