Trong kĩ thuật chống ăn mòn điện hoá cho các bồn chứa xăng dầu bằng thép (hợp kim Fe-C) chôn ngầm dưới đất, người ta áp dụng phương pháp bảo vệ bằng “anode hi sinh”. Các kĩ sư cần lựa chọn một kim loại thích hợp để gắn vào vỏ bồn.
Cặp oxi hoá – khử…..Thế điện cực chuẩn (V)
Mg2+/Mg…………………….-2,372
Al3+/Al……………………..-1,662
Zn2+/Zn…………………….-0,762
Fe2+/Fe…………………….-0,440
Cu2+/Cu…………………….+0,340
Ag+/Ag……………………..+0,799
Câu 17. Dựa vào nguyên lí bảo vệ điện hoá và số liệu ở bảng trên, nhóm kim loại nào sau đây không thể được sử dụng làm “anode hi sinh” để bảo vệ vỏ bồn thép?
A. Mg và Zn. B. Al và Zn. C. Cu và Ag. D. Mg và Al.
Câu 18. Cho các phát biểu sau về quá trình bảo vệ bồn chứa bằng anode hi sinh (giả sử chọn kẽm Zn làm anode):
(a) Khối Zn bị oxi hoá thay cho sắt trong thép.
(b) Bồn thép đóng vai trò là cực âm (cathode).
(c) Nước ngầm và muối khoáng trong đất đóng vai trò là dung dịch điện li.
(d) Hiệu điện thế sinh ra giữa hai điện cực càng lớn (E°cathode – E°anode) thì tốc độ tiêu hao của khối anode càng chậm.
Số phát biểu đúng là
A. 1. B. 2. C. 3. D. 4.
Câu trả lời tốt nhất
Câu 17.
Để bảo vệ vỏ bồn thép (thành phần chính là Sắt – Fe) theo phương pháp anode hy sinh, kim loại được chọn làm vật hy sinh phải có tính khử mạnh hơn Fe.
Cu và Ag có tính khử yếu hơn Fe nên không thể bảo vệ được bồn thép.
Câu 18.
(a) Đúng, Zn có tính khử mạnh hơn nên sẽ bị ăn mòn (oxi hóa) trước: Zn —> Zn2+ + 2e.
(b) Sai, Zn là cực âm (anode), bồn thép là cực dương (cathode).
(c) Đúng, để tạo thành một pin điện hóa, cần có môi trường dẫn điện. Độ ẩm và muối trong đất tạo ra môi trường điện ly.
(d) Sai, hiệu điện thế càng lớn thì cường độ dòng điện sinh ra trong pin điện hóa càng mạnh, dẫn đến tốc độ ăn mòn (tiêu hao) của khối anode càng nhanh.
